Trang chủ Giới thiệu Liên hệ Hỏi đáp Góc chia sẻ Login
   
   Địa chỉ: số 37 Kim M Thượng, Ba Đnh, H nội
- Giáo dục, học đường - Tư vấn tâm lý học đường tại các trường học ở Việt Nam: Những điều đang có và những thứ họ cần

Giáo dục, học đường

Tư vấn tâm lý học đường tại các trường học ở Việt Nam: Những điều đang có và những thứ họ cần

25/3/2010 - 9:38:56 AM

(Tamly) - Nghiên cứu được thực hiện theo hướng tiếp cận đánh giá để nhìn nhận một cách cụ thể về mô hình tư vấn tâm lý học đường đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay cũng như những gì chưa có.
Xem hình đúng cỡ ..
Trong những năm vừa qua, tâm lý giáo dục đã tập trung rất nhiều vào việc thúc đẩy tính đa dạng cũng như hiểu biết các nhu cầu đa văn hoá. Mối quan tâm của chúng tôi cũng ngày càng tăng lên đối với các nước dễ tiếp cận như Việt Nam. Mặc dù vậy chúng tôi không có hiểu biết nhiều về vấn đề giáo dục cũng như tâm lý ở Việt Nam.

Gần đây, hệ thống giáo dục Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt. Từ năm 2000 đến nay, phổ cập giáo dục tiểu học cho trẻ em ở tuổi đến trường đã được thúc đẩy mạnh mẽ, tuy nhiên, vẫn còn một số lượng đáng kể các em chưa được đến trường (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006). Một trong những nguyên nhân có thể là do cho trẻ đi học sẽ tiêu tốn một phần đáng kể thu nhập của rất nhiều gia đình (Quỹ từ thiện cho trẻ em Sài Gòn, 2006). Rất nhiều ông bố bà mẹ không được đi học và thiếu phương tiện để tự dạy con của họ (Quỹ từ thiện cho trẻ em Sài Gòn, 2006).

Theo một điều tra trên 2700 phụ huynh do Quỹ từ thiện cho trẻ em Sài Gòn thực hiện vào năm 2006, 58% ông bố và 56% các bà mẹ mù chữ hoặc chưa học xong tiểu học. 3% ông bố và 2% bà mẹ học xong lớp 9 hoặc cao hơn (Quỹ từ thiện cho trẻ em Sài Gòn, 2006). Đối với các ông bố bà mẹ này, các nhu cầu kinh tế và các vấn đề gia đình đã làm lu mờ nhu cầu về học tập vì họ cần bọn trẻ giúp làm việc nhà, trông em hay làm việc kiếm tiền (Quỹ từ thiện cho trẻ em Sài Gòn, 2006). Chính điều này đã tạo ra cái vòng luẩn quẩn trong một bộ phận dân cư dân trí thấp. Vì vẫn còn tồn tại một số lượng lớn trẻ em không được đến trường, hướng tiếp cận mới của giáo dục là làm sao tăng tỉ lệ trẻ em được đi học. “Vào năm 2000, 95% trẻ ở độ tuổi đến trường đã được đi học. Người ta hy vọng rằng sẽ tỉ lệ này sẽ tăng lên 99% vào năm 2010 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006, trang 4). Cải cách giáo dục còn hướng đến việc tăng số lượng giáo viên đạt chuẩn và thực hiện giảng dạy tại các lớp học cả ngày (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006). Hiện nay, thời gian học trung bình ở hầu hết các trường học ở Việt Nam là 3,3 giờ mỗi ngày (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006).

Mặc dù đã có nhiều sự quan tâm đến việc đưa trẻ em đến trường, vẫn còn rất ít sự chú ý đối với những em gặp các vấn đề khó khăn trong học tập, các em có vấn đề về hành vi cũng như tâm lý. Sau khi vấn đề đưa trẻ đến trường cũng như giúp trẻ phát triển kỹ năng học tập được giải quyết thì bước tiếp theo là phải giải quyết được các yêu cầu của trẻ có các vấn đề đặc biệt dựa trên tư vấn tâm lý học đường.

Mục đích của bài nghiên cứu này là nhằm có được một cái nhìn cụ thể về mô hình tư vấn tâm lý học đường đang tồn tại ở Việt Nam hiện nay cũng như những gì chưa có dựa trên hướng tiếp cận đánh giá. Kỹ năng, kiến thức và khả năng của các chuyên viên tư vấn tâm lý học đường đã được khảo sát. Bên cạnh đó, nhận thức về vai trò của các cán bộ này cũng được đánh giá. Chúng tôi cũng hy vọng có thể tìm ra những điểm còn khuyết thiếu trong một hệ thống giáo dục chuyên sâu ở Việt Nam.

Phương pháp

Người tham gia nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là 50 giáo viên ở một trường tư thục ở Hà Nội, Việt Nam.

Biện pháp thực hiện

Một bản điều tra dạng nhân khẩu học gồm 9 câu hỏi được phát ra nhằm điều tra về tuổi và số năm giảng dạy. Nội dung chính gồm 17 câu hỏi sử dụng cho đề tài này là bản nâng cấp dựa trên bản câu hỏi của Zucker và Terjesen (2007). Các câu hỏi trong bản điều tra nhằm tìm hiểu các chức năng được thực hiện cũng như không được thực hiện bởi nhà tâm lý học đường. Bản điều tra đánh giá dựa trên thang điểm Likert (có điểm số từ 1 đến 5, trong đó 1 điểm đối với trường hợp hầu như không thực hiện, và 5 điểm cho trường hợp hầu như luôn luôn thực hiện) để trả lời cho các câu hỏi về mức độ thường xuyên mà các cán bộ làm việc như những chuyên gia tâm lý học đường theo các chức năng được liệt kê. Ở phần sau của bản điều tra, chúng tôi cũng yêu cầu những ngưòi tham gia làm tương tự đối với câu hỏi họ mong muốn về mức độ thường xuyên mà các cán bộ đảm nhiệm vai trò tư vấn tâm lý học đường như thế nào.

Kết quả

Số liệu trung bình và độ lệch chuẩn được trình bày ở bảng 1. Kết quả điều tra thật thú vị khi cho thấy ở mỗi câu hỏi đều có sự khác biệt giữa một bên là những gì họ mong muốn ở các cán bộ tâm lý học đường với một bên là những gì đang được tiến hành. Sự khác nhau lớn nhất (.74) là ở vấn đề “dạy học sinh gặp các khó khăn trong học tập”. Cả 2 vấn đề “ tư vấn cho giáo viên về việc học tập của học sinh” và “sử dụng thời gian ở các lớp giáo dục chuyên sâu” đều có sự khác biệt là 0.73.

Sự khác biệt ít nhất 0.25 là ở vấn đề “tiến hành liệu pháp đối với cá nhân từng học sinh”, sau đó là “tiến hành phỏng vấn học sinh” (0.26). “Tham gia vào các hoạt động ở trường với giáo viên và học sinh” là vấn đề có sự khác biệt nhỏ thứ ba (0.43).

Kết quả nghiên cứu cho thấy rõ ràng có sự khác nhau giữa mong muốn của giáo viên người Việt Nam với những gì thực tế các nhà tâm lý học đường đang làm.

Nhìn chung thì các giáo viên mong muốn rằng các cán bộ đảm nhiệm vai trò tư vấn tâm lý học đường cần thiết lập được các bài đánh giá, tiến hành phỏng vấn học sinh, thực hiện quan sát hành vi học sinh, tiến hành liệu pháp cá nhân, liệu pháp nhóm, hỗ trợ giáo viên trong quá trình học tập của học sinh, trao đổi với phụ huynh, dạy học sinh gặp các vấn đề khó khăn trong học tập, hỗ trợ giáo viên trong việc lập kế hoạch giảng bài, tham gia vào các hoạt động của trường cùng với giáo viên và học sinh, tham dự các cuộc họp tổng kết ở trường học, dành thời gian đối với các lớp học giáo dục chuyên sâu và giáo dục tổng quát, xây dựng kế hoạch giáo dục mang tính cá thể hoá. Tuy nhiên, các giáo viên chỉ ra rằng “các nhà tâm lý học đường” không thực hiện được các chức năng cơ bản này ở mức họ mong muốn.

Từ những gì tìm được, vậy chúng ta cần phải làm gì? Rõ ràng là dựa trên kết quả điều tra này các giáo viên đều thấy rằng “các nhà tâm lý học đường” đã không đảm nhiệm được vai trò cơ bản của mình. Lời giải thích hợp lý cho sự khác biệt rõ ràng này chính là do thiếu các chương trình đào tạo tâm lý học đường ở Việt Nam. Hiện nay, chưa hề có chương trình đào tạo tâm lý học đường nào ở Việt Nam cả. Điều này tạo ra một lỗ hổng lớn trong lĩnh vực giáo dục tổng quan và giáo dục chuyên sâu. Do vẫn chưa có chương trình đào tạo phù hợp, các cán bộ đảm nhiệm vai trò tư vấn tâm lý học đường thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của họ. Kết quả của đề tài nghiên cứu này cho thấy tính cấp thiết của việc phải xây dựng các chương trình đào tạo tư vấn tâm lý học đường ở Việt Nam. Các chương trình đào tạo tư vấn tâm lý học đường ở Mỹ có đủ điều kiện và khả năng để hỗ trợ xây dựng các chương trình đào tạo tương tự ở Việt Nam.

Hiện nay tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, một chương trình như vậy đang được xúc tiến triển khai, cùng với sự hợp tác với trường Đại học St. John. Kết quả thu được từ đề tài nghiên cứu này cũng cho thấy cần phải lưu ý một số yếu tố quan trọng khi phát triển chương trình đào tạo chuyên viên tư vấn tâm lý học đường theo đúng nhu cầu hiện tại. Việc xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo như vậy sẽ tạo ra các chuyên viên tư vấn tâm lý học đường có đủ phẩm chất đáp ứng được các nhu cầu của học sinh, giáo viên và các bậc phụ huynh.

Đề tài nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế. Mặc dù các bản điều tra đã được dịch sang tiếng Việt nhưng chúng tôi cũng không chắc các giáo viên có hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các khái niệm “đánh giá”, hay “kế hoạch giáo dục mang tính cá thể hoá”, … hay không. Liệu những khái niệm này có mang ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt không hay chúng sẽ bị hiểu sai do quá trình chuyển dịch ngôn ngữ? Thêm vào đó, mẫu khảo sát được chọn trên cơ sở thuận lợi cho quá trình điều tra nên tất cả các thành viên đều là giáo viên từ một trường ở Hà Nội.
 

Bảng 1: Giáo viên xếp loại mức độ thường xuyên về các nội dung tư vấn tâm lý học đường hiện có và mong muốn về mức độ thường xuyên của các nội dung này

Nội dung tư vấn

Đang thực hiện

Mong muốn

Điểm Trung bình

Độ lệch chuẩn

Điểm trung

bình

Độ lệch chuẩn

Xây dựng kế hoạch đánh giá

3.26

1.031

3.72

1.14

Tiến hành phỏng vấn học sinh

3.31

1.004

3.57

1.08

Tiến hành liệu pháp cá nhân đối với học sinh

3.24

1.199

3.49

1.16

Tiến hành liệu pháp nhóm đối với  học sinh

2.85

1.367

3.57

1.12

Tư vấn giáo viên giải quyết các trường hợp học sinh có vấn đề về hành vi cư xử

3.49

1.157

4.22

.77

Tư vấn giáo viên về việc học của học sinh

3.48

1.27

4.13

.88

Tư vấn giáo viên giải quyết các trường hợp học sinh có vấn đề về tâm lý

3.58

1.138

4.09

.89

Trao đổi với phụ huynh học sinh về

hành vi và việc học của con họ

3.53

1.06

4.24

.97

Dạy các học sinh gặp khó khăn trong học tập

3.65

1.08

4.39

.88

Hỗ trợ giáo viên trong việc xây dựng kế hoạch giảng bài

2.94

1.19

3.59

1.09

Làm việc với phụ huynh học sinh

3.06

1.107

3.63

.95

Tiến hành khảo sát hành vi của học sinh

3.08

1.24

3.70

1.03

Tham gia vào các hoạt động ở trường với giáo viên và học sinh

3.41

1.00

3.84

.82

Tham dự các cuộc họp ở trường

3.47

1.10

4.00

.91

Dành thời gian ở

các lớp học giáo dục đặc biệt

3.53

1.06

4.26

.85

Dành thời gian ở các lớp học giáo dục tổng quan

3.24

.92

3.72

.78

Xây dựng kế hoạch giáo dục mang tính cá thể hoá cho các học sinh gặp khó khăn

3.63

.99

4.20

.75


 

Tài liệu tham khảo
Hien, N.T.M. (2006). Saigon Children’s Charity: Annual Report School Year 2005-2006. Retrieved June 5, 2007, from Saigon Children’s Charity Web site: www.saigonchildren.com
Ministry of Education and Training. Retrieved June 9, 2007, from http:en.moet.gov.vn/?page=6.10&view=4401

Kimberly Jacobs - Lindsay M. Havlicek
(Khoa Tâm lý học - St. John’s University - New York, USA)

Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế về Tâm lý học đường lần thứ nhất: NHU CẦU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐÀO TẠO TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI VIỆT NAM, Hà Nội tháng 8 - 2009


kiến của bạn

Ch : Bạn cần đăng nhập để gửi bi. Nếu bạn đ đăng k Thnh vin rồi xin mời Đăng nhập sử dụng User ID v mật khẩu đ đăng k. Nếu qun mật khẩu xin vui lng vo đy. Nếu bạn chưa l thnh vin, hy Đăng k một ti khoản tại đy.
Tựa đề (*)
Nội dung (*)
 
           

Về trước  

Các bi viết khác:
  • Một số bài học rút ra từ câu chuyện: Cô bé Lọ Lem
  • Ý kiến của học sinh về bạo hành học đường
  • Nhìn nhận từ góc độ tâm lý học về trường hợp các nữ học sinh đánh hội đồng một nữ sinh trung học phổ thông
  • Tìm các thời điểm tốt để giáo dục giới tính
  • Cải thiện thói quen lười suy nghĩ của trẻ
  • Tại sao học sinh trung học phổ thông không tặng quà cho mẹ nhân ngày 8.3?
  • Cách cư xử ở trường
  • Tạo môi trường học tập tối ưu
  • Giáo dục mầm non trong gia đình thời nay: 4 không + 5 có + 6 cần
  • Hãy giúp trẻ có được môi trường giao tiếp lành mạnh
  •  
    User ID:    
    Password:

     

     
    Đăng k thnh vin? Qun mật khẩu?

    Chi tiết