Trang chủ Giới thiệu Liên hệ Hỏi đáp Góc chia sẻ Login
   
   Địa chỉ: số 37 Kim M Thượng, Ba Đnh, H nội
- Trong nước - Khó khăn tâm lí trong việc thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp với bạn

Trong nước

Khó khăn tâm lí trong việc thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp với bạn

4/7/2011 - 3:57:25 PM

(Tamly) - Đi học tiểu học trẻ phải làm quen với bạn mới, với thầy cô giáo mới, với môi trường học tập mới v.v... Những điều mới mẻ và lạ lẫm đem đến cho trẻ nhiều cảm xúc và cũng không ít những khó khăn. Làm thế nào giúp trẻ thiết lập được các mối quan hệ giao tiếp với bạn một cách tốt đẹp và giao tiếp có hiệu quả?
Xem hình đúng cỡ ..
1. Đặt vấn đề
Giao tiếp là nhu cầu thiết yếu của con người. Nhu cầu này ngày càng tăng theo lứa tuổi và thời gian. Đối với HS lớp 1 cũng vậy. Đi học tiểu học, trẻ phải làm quen với bạn mới, với thầy cô giáo mới, với môi trường học tập mới v.v... Những điều mới mẻ và lạ lẫm đem đến cho trẻ nhiều cảm xúc và cũng không ít những khó khăn. Làm thế nào giúp trẻ thiết lập được các mối quan hệ giao tiếp với bạn một cách tốt đẹp và giao tiếp có hiệu quả. Đây là vấn đề đáng để cho các nhà giáo dục và những nhà nghiên cứu chúng ta cần quan tâm.

2. Phương pháp và khách thể nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu n¬ư điều tra bằng bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu và thống kê toán học, trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chủ yếu. Các phương án trả lời được cho điểm theo mức 3 – 2 – 1 tương ứng với mức độ: trên 3 lần – 1 đến 3 lần – không lần nào, hoặc thường xuyên - thỉnh thoảng - không bao giờ.

Khách thể nghiên cứu là 547 HS lớp 1 ở 4 tỉnh thành Hà Nội, Hà Tây, Cà Mau và Trà Vinh. Nghiên cứu được thực hiện trong năm học 2007-2008.

3. Kết quả nghiên cứu
So với các mặt KKTL trong học tập và sinh hoạt khác, HS đầu lớp 1 có KKTL ở mức cao nhất khi thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp với bạn, nhưng KKTL này vẫn nằm ở mức trung bình (ĐTB nhóm = 1,89) [1].

Theo cảm nhận của HS đầu lớp 1, biểu hiện khó khăn nhất trong việc thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp với bạn là "Không dám hỏi bài bạn mỗi khi không hiểu bài" (ĐTB = 2,45), tiếp theo là "các bạn trong lớp không thích chơi cùng" (ĐTB=2,43). Xếp thứ ba trong nhóm là "bị bạn trêu chọc” (ĐTB = 2,20). Cả ba biểu hiện này đều vượt ngưỡng trung bình chung và có KKTL ở mức cao. “Sợ chơi với bạn” là biểu hiện HS đầu lớp 1 thấy mình ít gặp khó khăn hơn cả khi thiết lập quan hệ giao tiếp với bạn (ĐTB = 1,26).

Tìm hiểu lý do vì sao "các bạn trong lớp không thích chơi cùng" chúng tôi được biết, đầu lớp 1 là giai đoạn các em HS đang tìm hiểu nhau về mọi mặt, ví dụ: bạn có học giỏi không, bạn có ngoan không, bạn có sạch sẽ không, bạn có hay nhường nhịn mỗi khi chơi không v.v… Quá trình tìm hiểu lẫn nhau phải cần có một thời gian các em mới chọn ra được bạn chơi mà mình thích và sau đó rất có thể sẽ là bạn thân. Khi được hỏi "vì sao mà con lại nghĩ rằng bạn không thích chơi với con" có nhiều lý do đưa ra, nhưng chủ yếu là những lý do sau: không làm theo ý bạn (28,8%), bạn không thích con (25,0%) (vì sao bạn không thích thì con không biết), cãi nhau với bạn (9,1%)…

Ở đây, việc trẻ cãi nhau với bạn, đánh nhau với bạn, bị bạn trêu chọc hay trêu chọc bạn đều vượt ngưỡng trung bình. Điều đó cho thấy, trong quan hệ với bạn, trẻ chưa làm chủ được tình cảm của mình, có gì không vừa ý là trẻ thể hiện ngay, cho nên việc đánh nhau và cãi nhau rất dễ xảy ra. Có 36,6% HS bị bạn trêu chọc và trong số đó, trêu trên 3 lần là 20,5% và trêu từ 1-2 lần là 79,5%. Phản ứng của trẻ khi bị bạn trêu chọc chủ yếu là mách thầy/cô (63,8%), mặc kệ bạn (17,1%), trêu lại bạn (5,5%) và đánh lại bạn hoặc khóc (cùng 5,0%).

Đa số HS luôn có nhu cầu chơi cùng bạn, thể hiện trong việc "Thích chơi với bạn" (ĐTB=1,30 thấp thứ hai so với các biểu hiện khác trong toàn thang đo), nhưng trong số những HS được hỏi vẫn có 4,4% HS không muốn chơi cùng các bạn.

Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi đã tham gia dự giờ một số lớp học với một số buổi học trong đó có giờ ra chơi. Kết quả cho thấy, một số cháu biểu hiện không có nhu cầu vui chơi. Cụ thể, các cháu cứ quanh quẩn ở bàn của mình, đọc truyện hoặc ngồi một chỗ xem các bạn chơi, trông đồ cho các bạn chơi… (Biên bản quan sát số 4, giờ ra chơi). Qua trò chuyện, trẻ cho biết những lý do chủ yếu sau đây làm các cháu không thích chơi với bạn:

- Không thích ra chơi vì các bạn hay xô đẩy;
- Không thích chơi vì sợ bạn bắt nạt;
- Thích ngồi xem các bạn chơi thôi;
- Sợ chơi nhiều ra mồ hôi làm bẩn quần áo;
- Chỉ thích chơi với anh chị lớp lớn vì các anh chị ấy nhường nhịn...

Có thể nói rằng, những câu trả lời ngắn gọn của trẻ cũng ẩn chứa những thông điệp đáng quan tâm. Thứ nhất, trẻ không dám chơi vì sợ (sợ bẩn, sợ bạn). Thứ hai, trẻ thích chơi với anh chị lớn hơn để mong mình được nhường nhịn, che chở. Điều này có thể là do trẻ không tự tin vào bản thân hoặc không chấp nhận thực tế mình đã là HS mà vẫn muốn mình bé bỏng để được nuông chiều. Thứ ba, trẻ sống khép mình, đặc biệt là những trẻ hướng nội. Tuy nhiên, số trẻ không thích chơi với bạn chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong toàn mẫu, còn đa số trẻ đều có nhu cầu chơi với bạn. Điều đó cho thấy, vui chơi với bạn vẫn là một trong những hoạt động giao tiếp cơ bản của các em. Có thể các em gặp một số khó khăn nhất định khi giao tiếp với bạn, nhưng dần dần trong quá trình học tập và sinh hoạt các em sẽ hiểu nhau và thích nghi được với nhau. Quá trình giao tiếp này nếu diễn ra thuận lợi sẽ tạo điều kiện tốt cho trẻ thích ứng dần với hoạt động học tập.

Điểm nổi bật ở KKTL trong việc thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp với bạn là thiếu hụt kĩ năng giao tiếp với bạn. Do thiếu hụt kĩ năng giao tiếp với bạn nên chỉ có 4,8% HS không gặp KKTL trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp với bạn, còn lại 82,7% HS gặp KKTL ở mức trung bình và 12,5 có KKTL ở mức cao khi giao tiếp với bạn.

Không phân biệt nam hay nữ, nhìn một cách tổng thể, HS đầu lớp 1 đều có những khó khăn như nhau khi thiết lập mối quan hệ giao tiếp với bạn. Tuy nhiên, trong 4 KKTL khi giao tiếp với bạn thì HS nữ gặp khó khăn nhiều hơn HS nam. Khác biệt lớn nhất giữa HS nam và HS nữ về khó khăn trong giao tiếp với bạn là ở biểu hiện "bị bạn trêu chọc" (d=-0,12 và P<0,001), tiếp theo là "cãi nhau với bạn" (d=-0,09 và P<0,001).

Qua quan sát và trò chuyện với các em chúng tôi thấy rằng, các em gái nhút nhát hơn hay e ngại và sợ sệt hơn nam. Trong vui chơi với bạn, các bạn nam có thể đánh nhau hoặc cãi nhau xong một lúc lại chơi với nhau. Nhưng con gái khi đã "te" (không chơi) với bạn có khi phải mất một vài hôm mới chơi lại với nhau, thậm chí có thể không chơi lại. Có khi chỉ vì những lý do rất vụn vặt cũng làm các em gái chơi với bạn này mà không chơi với bạn khác. Ví dụ, "Con thích chơi với Thư bởi bạn ấy có hai bím tóc xinh, con không thích chơi với Trí bởi vì Trí chơi với Lộc mà Lộc thì hay bắt nạt con" (PVS Tr. H.A, HS, lớp 1, HN). Như vậy, sự nhút nhát, e ngại hay "cố chấp" là những nguyên nhân cản trở các em gái trong quá trình giao tiếp với bạn.

Khu vực sinh sống của HS lớp 1 có tác động nhất định đến những biểu hiện cụ thể trong việc thiết lập các mối quan hệ giao tiếp của các em. HS nông thôn thường “đánh nhau với bạn”; “trêu chọc bạn”; “sợ chơi với bạn” và thường không được các bạn trong lớp chơi cùng hơn HS thành phố (độ chênh lệch về ĐTB giữa hai nhóm khách thể lần lượt là 0,18 với P<0,001; 0,08 và 0,08 với P<0,05; 0,07 với P<0,01).

Trên thực tế, môi trường xã hội xung quanh, vị thế xã hội cá nhân có ảnh hưởng mạnh đến đặc điểm giao tiếp của con người. Dường như HS thành phố có biểu hiện nhu cầu giao tiếp cao hơn HS nông thôn. Thực tế cho thấy, phần lớn HS thành phố tự nhiên hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Trong khi đó, HS nông thôn thường tỏ ra lúng túng, thiếu tự nhiên khi phải tiếp xúc với người lạ. Một số em còn tỏ ra không thích tiếp xúc với người lạ, sợ sệt người lạ. Nguyên nhân của hiện tượng trên là do HS thành phố thường có điều kiện tiếp xúc với nhiều người, nhiều môi trường khác nhau, các em có nhiều thời gian rỗi hơn và có thời gian để gặp gỡ vui chơi với bạn bè, đối tượng và phạm vi giao tiếp của các em phong phú, đa dạng hơn. Tất cả những điều này tạo thuận lợi cho các em trong quá trình giao tiếp hơn so với HS nông thôn [2].
 
Vũ Ngọc Hà

Chú thích

1. Ghi chú: Điểm thấp nhất = 1, điểm cao nhất = 3, ĐTB càng cao thể hiện khó khăn trong giao tiếp với bạn càng nhiều. Những mệnh đề có dấu * được cho điểm ngược lại.
2. Đào Như Trang (2003), "Một số năng lực cần chú ý khi chuẩn bị cho trẻ học môn toán lớp 1", Tạp chí Giáo dục, Số 9.


 

kiến của bạn

Ch : Bạn cần đăng nhập để gửi bi. Nếu bạn đ đăng k Thnh vin rồi xin mời Đăng nhập sử dụng User ID v mật khẩu đ đăng k. Nếu qun mật khẩu xin vui lng vo đy. Nếu bạn chưa l thnh vin, hy Đăng k một ti khoản tại đy.
Tựa đề (*)
Nội dung (*)
 
           

Về trước  

Các bi viết khác:
  • Hiệu ứng Thuận lợi xã hội
  • Một số suy nghĩ của công nhân về một số vấn đề kinh tế - xã hội
  • Các cơ chế tâm lý xã hội tác động đến sự hình thành tâm lý xã hội (tiếp)
  • Các yếu tố tác động đến sự hình thành tâm lý xã hội (Phần 1)
  • Làm sao với việc nói dối ở con trẻ
  • Một số yếu tố liên quan tới gia đình bỏ bê con trẻ
  • Những dấu hiệu nghi ngờ trẻ bị bạo hành về thể chất
  • Thực trạng quan hệ của giáo viên và học sinh đầu lớp 1
  • Khó khăn tâm lí trong sự tự chủ khi chuyển trạng thái từ học sang chơi và ngược lại ở học sinh đầu lớp 1
  • Ảnh hưởng xã hội - kiểu loại
  • Hiệu ứng thoả hiệp xã hội (phần cuối)
  • Khoảng cách không gian của hai bên trong giao tiếp
  • Hiệu ứng thoả hiệp xã hội (tiếp)
  • Người giữ ngân sách chung của gia đình*
  • Một số đặc điểm cơ bản của tâm lý học xã hội (Phần 2)
  •  
    User ID:    
    Password:

     

     
    Đăng k thnh vin? Qun mật khẩu?

    Chi tiết