Trang chủ Giới thiệu Liên hệ Hỏi đáp Góc chia sẻ Login
   
   Địa chỉ: số 37 Kim M Thượng, Ba Đnh, H nội
- Trong nước - Thực trạng quan hệ của giáo viên và học sinh đầu lớp 1

Trong nước

Thực trạng quan hệ của giáo viên và học sinh đầu lớp 1

13/6/2011 - 4:44:05 PM

(Tamly) - Người GV tiểu học có vị trí số 1 cả về dạy chữ và dạy người trong việc giáo dục trẻ. Với vị trí số 1 như vậy, cho nên ảnh hưởng của GV tiểu học, quan hệ GV tiểu học với HS tiểu học có ảnh hưởng rất nhiều tới mọi mặt của trẻ, đặc biệt là tháo gỡ KKTL cho trẻ khi đi học đầu lớp 1.

Xem hình đúng cỡ ..
1. Đặt vấn đề

Nghiên cứu thực trạng quan hệ của giáo viên (GV) và học sinh đầu lớp 1 (HS) xuất phát từ một số lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát từ vị trí của GV tiểu học trong nhà trường tiểu học và quan hệ với HS tiểu học

Vị trí của GV trong nhà trường tiểu học khác với vị trí của GV THCS và các cấp học trên. Người GV tiểu học có vị trí số 1 cả về dạy chữ và dạy người (giáo dục trẻ). Cụ thể: về dạy chữ, nhìn tổng thể trên toàn quốc thì người GV tiểu học dạy tất cả các môn học (9 môn), không như ở cấp THCS trở lên HS phải học đa môn, đa thầy cô (mỗi thầy cô chỉ phụ trách đảm nhận một môn). Về dạy người (giáo dục trẻ): Thầy cô tiểu học trực tiếp giáo dục trẻ toàn bộ cả về nội dung và thời gian làm việc với trẻ trong ngày bên cạnh sự hỗ trợ của Ban Giám hiệu, Hội đồng sư phạm nhà trường...

Vì vậy, với vị trí số 1 như vậy, cho nên GV tiểu học, quan hệ GV tiểu học với HS tiểu học có ảnh hưởng rất nhiều tới mọi mặt của trẻ, đặc biệt là tháo gỡ KKTL cho trẻ khi đi học đầu lớp 1.

Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm tâm lý của HS tiểu học

Xuất phát từ đặc điểm tình cảm của trẻ đầu cấp tiểu học cho thấy: Bộ mặt nhân cách của HS tiểu học là bộ mặt tình cảm, tuổi của HS tiểu học là tuổi sống bằng tình cảm, tình cảm chi phối toàn bộ đời sống tâm lý trong nhân cách của các em.

Về nhận thức: tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng đều chịu ảnh hưởng lớn từ tình cảm. Trong quá trình học tập, nếu thích thì các em quan sát và quan sát tốt hơn, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ... cũng tốt hơn.

Về nhân cách: ở trẻ tiểu học, nếu yêu ai - quí ai thì trẻ sẽ tin, bắt chước, nghe lời và làm theo người đó. Bản thân người GV tiểu học như đã phân tích ở trể là vị trí số 1 về dạy chữ (dạy hầu hết các môn) và về dạy người (là người tiếp xúc trực tiếp hàng ngày và có ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục trẻ). Vì vậy, nếu xây dựng, thiết lập được quan hệ giao tiếp tích cực giữa GV tiểu học - HS tiểu học, thì bằng quan hệ của mình với HS, người GV tiểu học có thể tháo gỡ được KKTL cho trẻ trong học tập ở đầu lớp 1.

2. Khách thể và phương pháp nghiên cứu


Sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như điều tra bằng bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu và thống kê toán học, trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu của chúng tôi. Các phương án trả lời được cho điểm theo mức 3 – 2 – 1 tương ứng với mức độ: trên 3 lần – 1 đến 3 lần – không lần nào, hoặc thường xuyên - thỉnh thoảng - không bao giờ.

Khách thể nghiên cứu là 547 HS lớp 1 và 547 phiếu đánh giá của giáo viên chủ nhiệm các em ở 4 tỉnh thành Hà Nội, Hà Tây, Cà Mau và Trà Vinh. Nghiên cứu được thực hiện trong năm học 2007-2008.

3. Kết quả nghiên cứu

Quan hệ của GV với HS trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi đạt mức trung bình (ĐTB nhóm = 1,56). Điều này cho biết, quan hệ của HS với GV ở mức bình thường, không tốt và cũng không xấu.

Trong quan hệ của GV với HS chúng tôi tạm chia ra 3 nhóm nhỏ gồm: những biểu hiện tiêu cực của cô đối với trẻ, những biểu hiện tích cực của cô với trẻ và phản ứng của trẻ với cô. Khi xây dựng bảng hỏi về quan hệ của cô với trẻ, nhóm những biểu hiện tiêu cực của cô đối với trẻ chúng tôi chỉ dành cho HS chứ không dành cho GV. Với xuất phát điểm là trong thực tế hiện nay có rất nhiều trường hợp đã nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng về ứng xử không đẹp của cô giáo với HS từ bậc học mầm non cho đến bậc THPT. Hiện tượng cô giáo nhốt các cháu nhỏ trong nhà vệ sinh, doạ cho vào máy giặt, bắt HS liếm bàn ghế, cho HS tát vào mặt nhau... tuy chỉ là những hiện tượng hiếm hoi. Nhưng, chúng tôi cũng rất muốn tìm hiểu xem trong mẫu nghiên cứu của mình có HS nào đã bị rơi vào trường hợp như đã nêu trên không. Kết quả mà chúng tôi thu được một lần nữa lại cho thấy những hiện tượng tiêu cực nêu trên chỉ là một phần rất nhỏ trong hệ thống giáo dục. Phần lớn HS được hỏi có phản ứng tốt khi nói về cô giáo của mình. Trong nhóm biểu hiện tiêu cực của cô giáo với HS ĐTB mỗi biểu hiện rất thấp, không có biểu hiện nào vượt ngưỡng trung bình. Điều đó nói lên rằng, những biểu hiện tiêu cực của cô đối với trẻ là rất ít.

Biểu hiện tiêu cực nhất trong quan hệ cô trò được các em HS đầu lớp 1 nhìn nhận là biểu hiện “cô mắng trước lớp” (ĐTB = 1,44), “cô bắt đứng lên bảng” (ĐTB = 1,37 và “cô quát mắng” (ĐTB = 1,31). Tuy ở mức thấp, nhưng cũng có 4,6% HS trả lời thường xuyên bị cô véo tai, cốc đầu hay đánh vào tay; 14,4% HS đôi khi bị như vậy; 7,5% thường xuyên bị cô giáo quát mắng, 16,5% đôi khi bị cô quát mắng; 3,1% cô bắt đứng lên bảng, góc lớp; 31,3% đôi khi bị phạt đứng lên bảng hoặc góc lớp; 5,1% thường xuyên bị cô phê bình trước lớp; 33,3% đôi khi bị cô phê bình. Duy nhất chỉ có 1 em trả lời thường xuyên bị cô giáo cho cán bộ lớp đánh và 7 em trả lời đôi khi bị như vậy chiếm 1,5% số HS toàn mẫu.

Như vậy, những biểu hiện tiêu cực của cô giáo đối với HS là rất ít nhưng không phải không có. Mặc dù những biểu hiện tiêu cực của GV đối với HS là rất ít, nhưng cũng không nên tồn tại, để mỗi ngày HS đến trường là một ngày vui và các bậc PH có thể yên tâm hoàn toàn trong thời gian con mình ở trường. Để làm được điều này, chúng tôi cho rằng, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho nhà giáo là rất cần thiết và việc nâng cao hơn nữa khả năng ứng xử sư phạm cho các thầy cô giáo trong tình hình hiện nay càng cần thiết hơn.

Có thể thấy, những biểu hiện tiêu cực giữa cô giáo và HS có rất ít trong mối quan hệ cô - trò, vậy những biểu hiện tích cực giữa cô với trò thì như thế nào? Kết quả thu được từ điều tra thực tiễn cho thấy, trong 4 biểu hiện tích cực thì “cô khen” là việc các em HS ít được nhận nhất (ĐTB = 1,52) so với 3 biểu hiện còn lại. Các biểu hiện khác như “Phát phần thưởng”, “Khoe với bố mẹ mỗi khi làm được việc tốt” được cô thực hiện thường xuyên hơn rất nhiều (ĐTB = 2,57 và 2,55 và nằm ở ngưỡng dưới của mức cao). Những phần thưởng mà cô giáo cho theo như gợi ý của chúng tôi có thể là nhãn vở, mẩu phấn hoặc cái bút chì, nhưng cũng có những em hầu như chưa bao giờ được cô thưởng khi làm được việc tốt. Đây là điều đáng để chúng ta quan tâm khi bàn đến vấn đề giáo dục con trẻ.

Mặc dù không phải tất cả HS đều được cô khen và được cô cho phần thưởng, nhưng vẫn có tới 92,9% HS thích cô giáo; 5,5% HS thấy bình thường và chỉ có 1,6% không thích cô giáo của mình. Tuy con số thích cô chiếm đa số trong toàn mẫu, nhưng vẫn có tới 26,7% HS sợ khi cô giáo lại gần, 15,5% run mỗi khi cô giáo gọi lên bảng và có tới 20,7% không dám xin cô đi vệ sinh trong giờ học. Lý do mà trẻ không dám xin cô đi vệ sinh là: Cô giáo không cho đi, phải đi vào giờ ra chơi không được đi trong giờ học (36,8%); ở nhà con đi rồi (10,4%); sợ cô/ngại/không muốn xin (39,9%); cố nhịn (10,4%)... Lý do lớn nhất mà trẻ đưa ra vẫn là sợ cô hoặc ngại cô nên không muốn xin đi vệ sinh, và trên thực tế không hiếm trẻ đã tè dầm ra lớp hay ị đùn trong giờ học. Khi tè dầm hay ị đùn ra lớp, trẻ sẽ trở thành trò cười cho các bạn, bị các bạn "ê ê" làm cho trẻ rất xấu hổ, mất tự tin, làm cho quan hệ giữa trẻ với bạn càng khó khăn và hoạt động học tập cũng bị ảnh hưởng. Như vậy, nhu cầu đi vệ sinh của trẻ là rất chính đáng, nhưng với những lý do trẻ đưa ra làm cho trẻ phải trì hoãn nhu cầu chính đáng của mình và kéo theo sẽ là ảnh hưởng tới kết quả học tập. Do vậy, GV nên kết hợp với cha mẹ HS, tìm hiểu thêm về đặc điểm sinh lý HS của mình để tạo điều kiện thuận lợi cho các em trong những giờ học, không nên bắt các em nín nhịn khi có nhu cầu chính đáng.

Một trong những nhu cầu của HS lớp 1 là mong muốn được nói chuyện với cô giáo. Có 38,2% HS nhiều lúc muốn nói chuyện với cô giáo, và có 36,4% HS không muốn nói chuyện với cô giáo. Con số HS muốn nói chuyện với cô và không muốn nói chuyện với cô là gần tương đương nhau. Vậy tại sao HS không muốn nói chuyện với cô giáo?. Trao đổi với HS về vấn đề này, các cháu cho rằng, con còn bận chơi với các bạn, con ngại cô… Rõ ràng, giữa cô và trò vẫn còn có những khoảng cách nhất định làm cho HS ngại ngần không dám đến gần và không dám trò chuyện. Song, bên cạnh đó, vẫn còn có những trẻ rất mạnh dạn thích được nói chuyện với cô giáo của mình, muốn kể cho cô giáo nghe về những người thân trong gia đình, về những việc mà trẻ đã làm được khi ở nhà như trông em giúp bố mẹ, làm những việc vặt trong nhà v.v… Nhưng, trong số những trẻ muốn nói chuyện với cô giáo không phải trẻ nào muốn là được. Chỉ có 37% HS muốn nói chuyện với cô là nói được, có 43,4% lúc nói được lúc không và 19,7% HS không nói chuyện được với cô giáo. Lý do chủ yếu mà HS không nói chuyện được với cô là vì cô hay lên phòng hội đồng uống nước, cô không ở lớp, không nhìn thấy cô, cô đi họp (61%); Cô bận dạy các bạn học (16,9%); Con bận học bài/ con ngồi chỗ của mình (15,3%); Cô không cho lên chỗ cô (6,8%); Cô nói chuyện với các bạn khác không nói chuyện với con (3,2%); Không dám nói/ sợ/ ngại cô (1,7%). Có cả lý do chủ quan và lý do khách quan khi trẻ muốn nói chuyện với cô mà không nói được, song điều này một lần nữa lại cho thấy, giữa cô và trò có những khoảng cách mà trò có muốn gần gũi với cô giáo cũng không thực hiện được. Làm thế nào để cô và trò xích lại gần nhau hơn, để những mong muốn, những tâm tư nguyện vọng của trẻ đến được với cô. Từ thực tế này gợi cho chúng tôi những suy nghĩ về quan hệ giữa cô và trò và cho chúng tôi thấy rằng, nếu giải quyết tốt mối quan hệ cô - trò sẽ giúp trẻ đi học đầu lớp 1 bớt đi được những KKTL và làm cho các em vượt qua khó khăn một cách dễ dàng hơn. Điều này có đạt được hay không phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của GV. Khi GV gần gũi, hiểu được tâm lý HS của mình thì sẽ có sự đối xử phù hợp với từng em và sẽ chiếm được tình cảm, lòng tin cậy của các em.

Có thể nói rằng, quan hệ giữa cô và trò đóng vai trò rất quan trọng đối với HS đi học đầu lớp 1. Để giúp trẻ nhanh chóng hòa nhập và thích nghi với việc học tập ở trường thì cô giáo là người không thể thiếu được trong quá trình này. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cô và trò sẽ là điều kiện rất tốt giúp trẻ vượt qua những KKTL khi đi học đầu lớp 1.

Vũ Ngọc Hà

 

kiến của bạn

Ch : Bạn cần đăng nhập để gửi bi. Nếu bạn đ đăng k Thnh vin rồi xin mời Đăng nhập sử dụng User ID v mật khẩu đ đăng k. Nếu qun mật khẩu xin vui lng vo đy. Nếu bạn chưa l thnh vin, hy Đăng k một ti khoản tại đy.
Tựa đề (*)
Nội dung (*)
 
           

Về trước  

Các bi viết khác:
  • Khó khăn tâm lí trong sự tự chủ khi chuyển trạng thái từ học sang chơi và ngược lại ở học sinh đầu lớp 1
  • Ảnh hưởng xã hội - kiểu loại
  • Hiệu ứng thoả hiệp xã hội (phần cuối)
  • Khoảng cách không gian của hai bên trong giao tiếp
  • Hiệu ứng thoả hiệp xã hội (tiếp)
  • Người giữ ngân sách chung của gia đình*
  • Một số đặc điểm cơ bản của tâm lý học xã hội (Phần 2)
  • Một số đặc điểm cơ bản của tâm lý học xã hội (Phần 1)
  • Đánh giá về các chính sách của Nhà nước đối với người công nhân
  • Sự khác biệt giữa tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội
  • Bàn về khái niệm Tâm lý học xã hội
  • Bàn về khái niệm Tâm lý
  • Một số khuynh hướng cơ bản của đạo đức học môi trường (Phần cuối)
  • Một số khuynh hướng cơ bản của đạo đức học môi trường (Phần 6)
  • Một số khuynh hướng cơ bản của đạo đức học môi trường (Phần 5)
  •  
    User ID:    
    Password:

     

     
    Đăng k thnh vin? Qun mật khẩu?

    Chi tiết