Trang chủ Giới thiệu Liên hệ Hỏi đáp Góc chia sẻ Login
   
   Địa chỉ: số 37 Kim M Thượng, Ba Đnh, H nội
- Trong nước - Vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở (CĐCS) trong tổ chức lao động (TCLĐ) và đình công (ĐC) ở doanh nghiệp

Trong nước

Vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở (CĐCS) trong tổ chức lao động (TCLĐ) và đình công (ĐC) ở doanh nghiệp

1/2/2012 - 1:35:38 PM

(Tamly) - Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (1993), tranh chấp lao động là tình trạng bất đồng về một hay một nhóm vấn đề nhất định, có xung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động về những vấn đề đó. Còn đình công là sự ngừng làm việc do số đông những người lao động từ chối làm việc.
Xem hình đúng cỡ ..


Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh Xã hội, trong 10 năm (2001 – 2010) xảy ra khoảng 2485 cuộc đình công trên cả nước. Địa bàn xẩy ra đình công chủ yếu là ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đình công xảy ra tập trung chủ yếu ở doanh nghiệp Đài Loan, Hàn Quốc, đầu tư trong lĩnh vực dệt may, da giầy là chủ yếu.

Theo kết quả khảo sát của chúng tôi năm 2010 tại 69 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Bình Dương thì có đến gần một nửa số doanh nghiệp được hỏi có xẩy ra tranh chấp lao động và đình công. Hầu hết lý do khiến các công nhân đình công ở tất cả các doanh nghiệp là giới chủ hoặc người quản lý doanh nghiệp không đảm bảo những lợi ích chính đáng cho người lao động (NLĐ) như: tiền lương, tiền thưởng, điều kiện giải trí (80,4%), vi phạm những thỏa thuận đã ký kết trong thỏa ước lao động tập thể (80,7%), không đảm bảo điều kiện làm việc cần thiết cho người lao động (73,1%), thời gian làm việc của người lao động bị kéo dài mà không được sự đồng ý của người lao động (73,4%), không tôn trọng nhân cách người lao động, nhân phẩm bị xúc phạm (73,2%), không quan tâm đến bảo hiểm xã hội cho người lao động (69,5%), không tôn trọng các ý kiến đề xuất của người lao động (66,5%)…

Trong các cuộc TCLĐ và ĐC, tổ chức CĐCS đóng vai trò như thế nào?
Theo chương 14, Luật Lao động hiện hành để tổ chức một cuộc đình công đều do tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp thực hiện. Một cuộc đình công được coi là hợp pháp khi diễn ra theo đúng trình tự: Gửi đơn kiến nghị lên chủ doanh nghiệp; khi không thoả thuận được thì báo cáo lên trọng tài lao động; sau khi trọng tài lao động hoà giải không được thì lúc ấy phải lấy ý kiến tập thể công nhân để tổ chức đình công… Tất cả các công đoạn này đều do tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp thực hiện.
Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, ngay tại các doanh nghiệp có tổ chức công đoàn thì chỉ có 2,9 % các cuộc tranh chấp lao động, đình công do công đoàn tổ chức, còn lại là do người lao động tự ý đình công (theo ý kiến của cán bộ công đoàn). Khi xảy ra TCLĐ hay ĐC chỉ có chưa đến một nửa số NLĐ (45,1%) hành động theo chỉ dẫn của tổ chức CĐCS. Điều này cho thấy tính chất tự phát của NLĐ trong các cuộc TCLĐ và ĐC, đồng thời cho thấy vai trò tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý của CĐCS ở các doanh nghiệp này còn yếu.
Để đại diện cho người lao động thì hoạt động của công đoàn phải mạnh, hiệu quả. Nhưng trên thực tế, hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn chưa cao. Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, NLĐ, các cán bộ CĐCS và người quản lý doanh nghiệp (QLDN) đều cho rằng, các nguyên nhân dẫn đến TCLĐ hoặc đình công từ phía tổ chức CĐCS là do CĐCS chưa thực hiện tốt vai trò của mình. Cụ thể như sau:Theo ý kiến của đa số NLĐ, cán bộ CĐCS và người quản lý doanh nghiệp thì một trong những nguyên nhân từ phía tổ chức CĐCS dẫn tới các TCLĐ và ĐC là CĐCS không quan tâm, bảo vệ những lợi ích chính đáng cho người lao động, không thực hiện những cam kết đã ký trong thỏa ước lao động tập thể …. Theo ý kiến của phần lớn NLĐ(76,9%) thì tổ chức CĐCS không tôn trọng các ý kiến đề xuất của NLĐ, không tổ chức và lãnh đạo các TCLĐ và ĐC khi TCLĐ và ĐC là chính đáng và cần thiết (70,5%) và CĐCS đứng về phía chủ lao động, không quan tâm đến lợi ích của người lao động (65,5%). Số đông cán bộ CĐCS(67,9%) và người quản lý doanh nghiệp (64,6%) cũng thừa nhận điều này. Phần lớn những người quản lý doanh nghiệp (83,3%) cũng cho rằng tổ chức CĐCS đã không tổ chức và lãnh đạo các TCLĐ và ĐC khi TCLĐ và ĐC là chính đáng và cần thiết. Đa số cán bộ CĐCS (75%) đã thừa nhận điều này. Như vậy CĐCS đã chưa thực hiện được vai trò đại diện cho NLĐ trong TCLĐ và ĐC.

Thực tế cũng cho thấy, chỉ khi đã xảy ra tranh chấp lao động hay đình công tại doanh nghiệp thì tổ chức CĐCS mới tham gia giải quyết vấn đề bằng các biện pháp như trao đổi, bàn bạc với chủ doanh nghiệp để giải quyết tranh chấp lao động, đình công theo luật định cùng với đó là tổ chức CĐCS trao đổi với người lao động, thủ lĩnh của NLĐ hay dựa vào thỏa ước lao động đã ký kết để giải quyết vấn đề. Chúng ta đều biết, nguyên nhân dẫn đến các vụ tranh chấp lao động chủ yếu là do mâu thuẫn lợi ích giữa doanh nghiệp và người lao động. Công nhân đình công vì cuộc sống quá khó khăn, họ không thể sống được bằng đồng lương mà doanh nghiệp trả. Nếu doanh nghiệp chấp nhận thêm ưu đãi cho công nhân thì họ sẽ mất đi một khoản lợi nhuận.Trong những trường hợp như thế, công đoàn chỉ có thể đứng ra thuyết phục hai bên mà không thể dùng quyền “áp chế” bất kỳ bên nào.
Bùi Thị Vân Anh
Tài liệu tham khảo
1. Lê Thanh Hà, Vấn đề tranh chấp lao động và đình công ở Việt nam trong 10 năm qua (2000 – 2010). Chuyên đề đề tài: Tranh chấp lao động và đình công trong các công ty liên doanh và công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta, 2011.
2. Lê Văn Hảo, Thực trạng tranh chấp lao động và đình công ở Việt nam nhìn từ góc độ quản lý doanh nghiệp và vai trò của tổ chức công đoàn. Chuyên đề đề tài: Tranh chấp lao động và đình công trong các công ty liên doanh và công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta, 2011.
3. Nguyễn Hữu Dũng, Đình công ở Việt nam: Thực trạng và giải pháp. Chuyên đề đề tài: Tranh chấp lao động và đình công trong các công ty liên doanh và công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta, 2011.
4. Số liệu bài viết được rút ra từ đề tài cấp Nhà nước: Tranh chấp lao động và đình công trong các công ty liên doanh và công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta do GS.TS Vũ Dũng làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài được thực hiện trong 2 năm 2010 – 2011.





 

kiến của bạn

Ch : Bạn cần đăng nhập để gửi bi. Nếu bạn đ đăng k Thnh vin rồi xin mời Đăng nhập sử dụng User ID v mật khẩu đ đăng k. Nếu qun mật khẩu xin vui lng vo đy. Nếu bạn chưa l thnh vin, hy Đăng k một ti khoản tại đy.
Tựa đề (*)
Nội dung (*)
 
           

Về trước  

Các bi viết khác:
  • Quan niệm của người dân về ứng xử của cha mẹ với con, cháu trong gia đình vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay (qua khảo sát tại Hà Nội, Hà Tây và Thái Bình)
  • Erik và Erikson và các giai đoạn phát triển tâm lý con người (Phần cuối)
  • Erik và Erikson và các giai đoạn phát triển tâm lý con người (Phần 2)
  • Erik Erikson và học thuyết về sự phát triển con người
  • Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên
  • Đặc điểm tâm lý của nghề kỹ thuật
  • Các cơ chế tự vệ tâm lý
  • Nhận thức của doanh nhân về những hỗ trợ của Nhà nước
  • Làm gì khi học sinh có hành vi lấy đồ của bạn?
  • Có phải vợ quản lý chặt thu nhập của chồng chỉ vị mục tiêu kinh tế?
  • Ai là trụ cột kinh tế của gia đình?
  • Hiệu ứng bầy đàn hay tâm lý đám đông?
  • Tâm lý nương rẫy và sự phát triển bền vững ở các dân tộc Tây Nguyên
  • Nhà rông - biểu tượng vẻ đẹp của cộng đồng dân tộc Xơ Đăng
  • Đo lường trí tuệ cảm xúc (Phần 2)
  •  
    User ID:    
    Password:

     

     
    Đăng k thnh vin? Qun mật khẩu?

    Chi tiết